Công trình thủy điện ở Tây Nguyên không tính hết tác động môi trường

 Cùng với việc thiếu tính toán khi xây dựng các nhà máy thủy điện, nạn phá rừng tàn khốc ở Tây Nguyên cũng khiến nguồn nước suy giảm trầm trọng.

Việc đầu tư xây dựng các công trình thủy điện ở Tây Nguyên không tính hết tác động môi trường. Các công trình thủy lợi không phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của vùng, công tác quản lý khai thác còn nhiều bất cập. Tình trạng phá rừng, khai thác nước ngầm vô tội vạ, khiến trữ lượng nước ngày càng suy giảm.

Sự can thiệp thô bạo của con người đã tác động trực tiếp đến nguồn nước ở Tây Nguyên trong những năm qua, trước hết là việc xây dựng hàng loạt nhà máy thủy điện trên hầu hết các dòng sông lớn. Điển hình là dự án thủy điện An Khê – Ka Nak ở tỉnh Gia Lai đã chặn ngang dòng chảy sông Ba từ thượng nguồn, rồi chuyển nước về sông Kôn, tỉnh Bình Định; sông Ba trở thành con “sông chết”.

Mỗi năm, hơn 300 tỷ mét khối nước sông Ba đã bị chuyển về Bình Định, khiến hàng chục nghìn hec-ta đất sản xuất ở 6 huyện, thị xã của tỉnh Gia Lai bị khô hạn. Khoảng 400.000 dân sinh sống dọc lưu vực sông Ba phải gánh chịu sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt. Suốt cả nhiệm kỳ làm Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai, ông Phạm Đình Thu luôn luôn bị áp lực bởi công trình thủy điện này.

Ông Thu cho biết: “Thủy điện An Khê – Kanak là vấn đề lâu dài, căng thẳng, không biết đến lúc nào kết thúc. Bây giờ nó ảnh hưởng đến lưu vực là gần 400.000 dân ở hạ lưu chứ không phải chỉ có An Khê. Việc dịch chuyển nguồn nước gây tác hại cực kỳ to lớn”.

Tương tự như vậy, hệ thống sông Sê-rê-pôk (hợp lưu của sông Krông Nô và Krông Ana) chảy qua 2 tỉnh Đắc Nông và Đắc Lắc cũng bị “chặt” ra nhiều khúc để xây dựng thủy điện, ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước thủy lợi. Từ khi nhà máy thủy điện Buôn Tuar Srah chặn dòng Krông Nô, nguồn nước sản xuất của 8 xã, thuộc tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông bị ảnh hưởng.

Dưới hạ nguồn, nhà máy thủy điện Sê-rê-pôk 4A chặn dòng tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắc Lắc, chuyển nước sang khu vực khác để phát điện, khiến hàng chục km sông Sê-rê-pôk trơ đáy. Việc làm này đã gây hạn hán ở vùng hạ du, ảnh hưởng hệ sinh thái Vườn quốc gia Yook Đôn, đồng thời biến khu du lịch sinh thái Buôn Đôn vốn rất hấp dẫn, thành một địa chỉ heo hút.

Thủy điện Sê-rê-pôk 4A chặn dòng, khiến khu du lịch sinh thái Bản Đôn khô khốc.

Tại Kon Tum, thủy điện Thượng Kon Tum đang được xây dựng, chuyển nước từ sông Đăk Snghé, tỉnh Kon Tum sang sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi, chắc chắn sẽ gây thảm cảnh tồi tệ không kém so với những gì đang diễn ra ở hạ lưu thuỷ điện An Khê-Kanak, tỉnh Gia Lai, khu du lịch Buôn Đôn tỉnh Đắc Lắc hay như ở thác Pongour – Lâm Đồng, thác nước thơ mộng và hùng vĩ bậc nhất Tây Nguyên.

Bà Trương Thị Đáng quản lý Khu du lịch sinh thái Thác Pongour cho hay, khi xây dựng đập thủy điện Đại Ninh thì hầu như nguồn nước dòng sông Đa Nhim về hạ nguồn của thác Pongour không còn, không đủ nước để cung cấp cho cây trồng và thác nước cũng cạn kiệt luôn.

Mặc dù thủy điện Đại Ninh đã cam kết xả về dòng sông Đa Nhim, nhưng thực tế họ không thực hiện theo yêu cầu đó, bà Đáng bức xúc.

Tây Nguyên đang phải trả giá quá đắt và chưa biết khi nào thôi trả giá. Cùng với việc thiếu tính toán khi xây dựng các nhà máy thủy điện, nạn phá rừng tàn khốc ở Tây Nguyên cũng là tác nhân khiến nguồn nước bị suy giảm trầm trọng.

Thủy điện Đại Ninh chuyển nước sông Đa Nhim từ Lâm Đồng về Ninh Thuận khiến thác Ponguor cạn nước.

Theo Tổng cục lâm nghiệp, 7 năm qua, Tây Nguyên mất gần 360 nghìn ha rừng. Một số liệu thống kê khác cho thấy, 30 năm qua, 1/3 diện tích rừng ở Tây Nguyên bị tàn phá, với diện tích hơn 1,5 triệu ha, khiến độ che phủ suy giảm nhanh chóng, mất đi khả năng giữ nước.

Ông Trương Vân – Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai cho rằng, phá rừng là một tác động rất lớn, xóa đi những thảm thực vật. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi rừng nghèo cũng ảnh hưởng rất lớn.

“Trước đây người dân trồng lúa cạn ở đầu nguồn, bây giờ chuyển qua trồng cà phê, hồ tiêu. Như vậy là cùng một thời điểm, vừa tưới cho lúa nhưng thượng nguồn người ta sử dụng bơm lấy nước để tưới cho cà phê, hồ tiêu nên lượng nước rất thiếu,” ông Vân cho hay.

Trong khi thuỷ điện đổ nước đi nơi khác, rồi mất rừng-mất khả năng giữ nước, thì việc chống hạn ở Tây Nguyên dồn vào các công trình thuỷ lợi. Tây Nguyên hiện có 2.260 công trình thủy lợi, với 1.150 hồ chứa, gần 950 đập dâng, hàng trăm trạm bơm và gần 5.000 km kênh mương. Thế nhưng, hàng trăm công trình thủy lợi xuống cấp, bị bồi lắng, phần còn lại thì quản lý vận hành yếu kém. Mùa lũ xả sai quy trình gây ngập úng. Mùa hạn thì dùng lãng phí vào đầu vụ để cuối vụ cạn khô.

Ông Mai Trọng Dũng – Phó giám đốc Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắc Lắc nêu thực tế: “Các công trình trước đây giao cho địa phương quản lý thì giao cho huyện, huyện giao cho xã, xã lại giao cho một người cán bộ giao thông - thủy lợi; và công trình đó lại giao về cho thôn, buôn, thì ông trưởng thôn, buôn quản lý, để nhiều công trình xuống cấp, đặc biệt một số công trình để dân lấn chiếm. Các công ty cà phê thì việc đâu tư nâng cấp gần như không còn, nên cũng ảnh hưởng đến năng lực tưới của công trình”.

Tình trạng khai thác nước ngầm vô tội vạ cũng khiến cho Tây Nguyên ngày càng khô khát. Kết quả nghiên cứu của Chương trình cảnh quan bền vững, thuộc tổ chức IDH của Hà Lan cho thấy, khoảng 5 năm trở lại đây, mực nước ngầm ở Tây Nguyên mỗi năm tụt xuống từ 3 đến 5m, trữ lượng nước đã giảm từ 30 đến 35%.

Thủy điện Sê-rê-pôk

Qua thực tế hoạt động khai thác nước ngầm của đơn vị, ông Trần Văn Thiện, Giám đốc Công ty TNHH MTV Cấp nước Đắc Lắc cho biết: “Mùa khai thác trùng với mùa tưới cà phê, hồ tiêu; nông nghiệp bây giờ tưới tiêu quá lớn. 10 năm trước thì giếng có độ sâu so với mặt đất là từ 80 đến 90 mét, nhưng hiện giờ xuống đến 110, 111 mét, xuống hẳn đi từ 10 đến 15 mét”.

Một bất cập khác là phần lớn các công trình thủy lợi ở Tây Nguyên chỉ ưu tiên cây lúa, hiệu quả kinh tế thấp; trong khi nhiều cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu và các loại cây ăn quả thì ít được chú trọng. Toàn vùng hiện có khoảng 600.000 ha cà phê, 60.000 ha hồ tiêu, phần lớn do nông dân tự tìm lấy nguồn nước tưới bằng việc đào giếng, khoan giếng; chỉ khoảng 30% diện tích cà phê của các doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư công trình thủy lợi, hiện đã xuống cấp nghiêm trọng.

Nhiều công trình được Nhà nước đầu tư không đồng bộ; chưa có hệ thống kênh mương, nên còn khoảng 150 nghìn hec-ta cây trồng nằm trong khả năng cấp nước nhưng chưa được tưới.

Thực tiễn đang đặt ra cho Tây Nguyên yêu cầu thay đổi căn bản về mô hình đầu tư, quản lý công trình thủy lợi, áp dụng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để khai thác nguồn nước đúng trọng tâm, trọng điểm nhằm mang lại hiệu quả cao nhất./.

Theo VOV