Bị rỗng tuỷ sau 2 tháng đau cổ, vai, gáy không dứt

VietTimes – Sau 2 tháng đau cổ, vai, gáy không dứt, người phụ nữ 41 tuổi bàng hoàng khi biết mình mắc bệnh rỗng tuỷ.

Bác sĩ chụp cộng hưởng từ (MRI) cho bệnh nhân (Ảnh - PKCC)

Bác sĩ chụp cộng hưởng từ (MRI) cho bệnh nhân (Ảnh - PKCC)

Từ cơn đau bất thường

Chị H., 41 tuổi là nhân viên văn phòng, hoàn toàn khỏe mạnh nhưng từ 2 tháng nay, chị bị đau vùng cổ gáy, nhức vai phải. Cứ nghĩ do đặc thù công việc ngồi nhiều dẫn đến đau mỏi cơ, chị H. đã nghỉ ngơi, xoa bóp, chườm ấm vùng đau,… Tuy nhiên, tình trạng bệnh không giảm mà còn thấy giảm sức cơ tay phải khi lao động ngày càng tăng.

Lo lắng, chị H. đã đến Phòng khám Đa khoa Thu Cúc để thăm khám. Tại đây, các bác sĩ đã phát hiện chị H. có nhiều triệu chứng bất thường như: mất cảm giác nóng lạnh tại tay phải, mất cảm giác đau tại tay phải dù có bị đứt tay, phản xạ gân xương tại tay phải suy giảm nghiêm trọng.

Để tìm hiểu rõ nguyên nhân, BS. Vũ Hải Yến – chuyên gia Nội Thần kinh của Phòng khám - đã chỉ định cho chị H. chụp cộng hưởng từ (MRI) và kết quả cho thấy trong đoạn tủy sống của chị H. từ khu vực cột sống cổ gáy đến giữa lưng hình thành hốc rỗng chứa đầy dịch tủy. Các dịch này tích lại thành các khoang và nang hốc. Đây là biểu hiện đặc trưng của căn bệnh rỗng tủy (Syringomyelia) - bệnh mạn tính hiếm gặp ở tủy sống với tỷ lệ mắc rất ít: 8,4/100.000 người, thường tập trung ở độ tuổi 20-50.

Bị rỗng tuỷ sau 2 tháng đau cổ, vai, gáy không dứt ảnh 1

Hình ảnh tuỷ sống của bệnh nhân (Ảnh - PKCC)

BS. Vũ Hải Yến cho biết: “Ban đầu, tôi cũng chỉ nghi ngờ bệnh nhân bị đau mỏi cổ vai gáy do mắc phải bệnh lý về cổ vai gáy. Tuy nhiên, qua kiểm tra, bệnh nhân không nhận biết được nóng lạnh tại tay phải và cảm giác đau dù bị đứt tay phải trong khi tay trái vẫn bình thường. Đây đều là những dấu hiệu bất thường vì vậy cần phải có kết quả chụp cộng hưởng từ MRI cột sống và tuỷ sống để đánh giá tình trạng tổn thương cột sống cũng như loại trừ các bệnh lý khác có liên quan”.

Theo BS. Nguyễn Chí Phồn – Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh - máy chụp cộng hưởng từ MRI có thể phát hiện chính xác nhất các tổn thương thần kinh tương ứng vùng cổ (thoát vị đĩa đệm, viêm tủy, u ống nội tủy, xơ cứng rải rác,...). Nhất là khi có tiêm thuốc đối quang từ việc đánh giá tính chất tổn thương sẽ càng rõ và dễ chẩn đoán hơn. Đây là công cụ đáng tin cậy nhất để chẩn đoán bệnh phức tạp như rỗng tủy sống.

Hiện, chị H. đang được các bác sĩ chuyên khoa Nội thần kinh tại Phòng khám tư vấn thăm khám định kỳ thường xuyên 2 tháng/lần, chụp MRI 6 tháng/lần để đánh giá và bổ sung các loại vitamin nhóm B, sử dụng một số loại thuốc giúp làm giảm triệu chứng đau mỏi, tê bì.

Các bác sĩ khuyến cáo chị H. cần hạn chế công việc phải cúi ngửa nhiều, các công việc cần sự tinh tế ở bàn tay đặc biệt là tay phải. Bên cạnh đó, người bệnh cần tập các bài tập phục hồi chức năng tổn thương tủy sống. Nếu mức độ nặng gây thiếu hụt thần kinh nhiều các bác sĩ có thể phải chỉ định can thiệp ngoại khoa để hút dịch trong ống rỗng giúp giải phóng chèn ép tủy, làm ngừng sự diễn tiến của bệnh, bởi vì rỗng tủy hiện nay chưa có phương pháp điều trị triệt để.

Đến căn bệnh hiếm gặp

Theo TS.BS. Nguyễn Vũ - Phó Trưởng khoa Ngoại Thần kinh Cột sống, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội - rỗng tủy là bệnh mạn tính ở tủy sống do ở trong đoạn tủy sống hình thành một hốc rỗng ở trung tâm của chất xám chứa dịch não tủy.

Dịch não tủy tích lại hình thành các khoang hoặc nang hốc phát triển lớn dần và gây huỷ hoại tuỷ và biểu hiên lâm sàng bởi những rối loạn vận động, cảm giác và dinh dưỡng. Bệnh có thể gặp cả ở cổ, ngực và thắt lưng. Tuy nhiên, tỷ lệ gặp nhiều nhất nằm ở ranh giới giữa tủy cổ và tủy ngực.

Có nhiều nguyên nhân gây ra căn bệnh rỗng tủy, trong đó có một số lượng không nhỏ là nguyên nhân vô căn (tức là không xác định được nguyên nhân) và có trường hợp có căn nguyên như: Dị tật cột sống bẩm sinh; sau chấn thương; phối hợp với não úng thủy; dị dạng cổ chẩm; viêm tủy sống thắt lưng; nang hố sau và u của chẩm lỗ lớn.

TS.BS. Nguyễn Vũ cho hay: Những triệu chứng đầu tiên của bệnh thường ảnh hưởng đến gáy, vai, cánh tay và bàn tay, bao gồm yếu cơ, teo cơ và mất phản xạ gân cơ. Đôi khi mất nhận cảm đau hoặc nóng lạnh, đặc biệt là ở bàn tay. Ngoài ra, người bệnh có thể bị đau và cứng gáy, vai, cổ, cánh tay và chân, rối loạn đại tiện và tiểu tiện.

Đa phần bệnh nhân rỗng tủy đến khám muộn và thường bị nhầm lẫn với bệnh khác vì rỗng tủy đa phần là hậu quả của một bệnh khác như não úng thủy, u, dị dạng cổ chẩm,…

Theo các chuyên gia thần kinh, rỗng tủy là bệnh mạn tính nên không để điều trị khỏi hoàn toàn. Hiện có 2 phương pháp điều trị bệnh là điều trị bằng nội khoa và ngoại khoa. Điều trị nội khoa chỉ có thể điều trị triệu chứng và việc điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân bệnh, tình trạng, tuổi cũng như các triệu chứng của người bệnh.

Khi điều trị nội khoa không đỡ, bệnh nhân sẽ được điều trị ngoại khoa. Bởi nếu không được phẫu thuật, bệnh rỗng tuỷ sống thường dẫn đến yếu tay và chân tiến triển, mất cảm giác bàn tay và đau, yếu mạn tính. Còn phẫu thuật giải chèn ép và dẫn lưu nang dịch sẽ làm ngừng sự diễn tiến của bệnh, đôi khi làm các triệu chứng thần kinh có sẵn khá lên. Nếu bệnh rỗng tuỷ sống tái phát sau phẫu thuật thì có thể cần phải phẫu thuật thêm.

Để phát hiện sớm và điều trị bệnh kịp thời, các chuyên gia khuyến cáo người dân cần chủ động đi khám sau chấn thương, đặc biệt vùng đầu và cột sống; bị đau mỏi kéo dài, không đỡ hoặc đỡ ít khi nghỉ ngơi, xoa bóp hoặc tê bì, yếu cơ, giảm/mất cảm giác đau, nóng/lạnh, teo cơ.