|
Việt Nam có nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động dồi dào, cần được trang bị kiến thức và kỹ năng số |
2 màu "sáng tối" trong bức tranh nhân lực số
Hòa cùng xu thế phát triển của kỷ nguyên số, nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực số nói riêng ở nước ta hiện nay có sự đan xen giữa lợi thế và bất lợi.
Về thuận lợi - gam màu sáng trong bức tranh nhân lực số, Việt Nam có lực lượng lao động trẻ, năng động và khả năng thích nghi nhanh với công nghệ, tốc độ phát triển công nghệ nhanh và sự đầu tư mạnh mẽ vào chuyển đổi số. Lao động Việt Nam được thừa nhận rộng rãi là có những phẩm chất sáng giá, thuận lợi cho chuyển đổi số thành công như có trí tuệ tốt, hiếu học, học hỏi nhanh, giỏi ứng biến và dễ thích nghi.
Hơn nữa, do hoàn cảnh lịch sử, chúng ta có nguồn trí tuệ người Việt Nam ở nước ngoài dồi dào, quý giá, có khoảng 600.000 người có trình độ đại học trở lên, trong đó có khá nhiều các chuyên gia, trí thức, các nhà khoa học lớn làm việc ở các tập đoàn, trường đại học, viện nghiên cứu hàng đầu ở các nước có nền KH&CN tiên tiến,...
Các tập đoàn công nghệ lớn như Samsung, Apple, Intel, LG, Foxconn, Cisco, Toshiba... đã hiện diện mạnh mẽ tại Việt Nam, bao gồm cả thực hiện các hoạt động R&D tại Việt Nam để phát triển sản phẩm mới.
Các tập đoàn lớn trong nước như FPT, Viettel, Vingroup, CMC không chỉ tập trung vào phát triển công nghệ mà còn chủ động đầu tư vào đào tạo nội bộ, hợp tác với các trường đại học trong và ngoài nước để phát triển nhân lực số.
Cụ thể, FPT Software đầu tư 125 tỷ đồng cho chương trình đào tạo hơn 3.000 nhân sự ICT chất lượng cao cho thị trường Nhật Bản. FPT cũng ký bản ghi nhớ hợp tác với Đại học Quốc gia Singapore để nghiên cứu và phát triển các tài năng trong lĩnh vực AI.
Tập đoàn công nghệ CMC và Tập đoàn máy tính Kyoto đã ký kết thỏa thuận hợp tác về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường Việt Nam và Nhật Bản,... Mới đây, VinUni triển khai chương trình tuyển sinh đào tạo tiến sĩ khoa học máy tính,...
Bên cạnh gam màu sáng, bức tranh nhân lực số ở nước ta hiện nay có nhiều mảng tối màu, các doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ, tài chính, sản xuất, đang thiếu hụt trầm trọng nhân lực có kỹ năng số, đặc biệt là trong lĩnh vực AI, dữ liệu lớn và an ninh mạng.
Việt Nam có khoảng 550.000 lao động số, mới chỉ đạt 1,1% tổng số lao động, thấp hơn nhiều so với các nước định hướng công nghệ Hoa Kỳ là 4%, Hàn Quốc là 2,5%, Ấn Độ là 1,78%. Chưa kể Việt Nam đang đối mặt với bài toán chảy máu chất xám, khi nhiều chuyên gia AI và dữ liệu lớn chọn làm việc tại Singapore, Nhật Bản, hoặc Mỹ, nơi họ có mức lương cao hơn, môi trường và cơ hội phát triển tốt hơn.
Thiếu kỹ năng số là nút thắt của nguồn nhân lực. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, đến năm 2022, chỉ khoảng 20% lao động được trang bị kỹ năng số cơ bản. Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, chỉ 14% lực lượng lao động Việt Nam có kỹ năng số nâng cao, trong khi các nước trong khu vực như Singapore hay Malaysia đã đạt trên 30%.
Hơn nữa, việc ứng dụng AI vào công việc vẫn còn hạn chế, phần lớn lao động mới chỉ dừng ở mức sử dụng AI hỗ trợ cơ bản mà chưa biết cách tận dụng AI để tối ưu hóa quy trình làm việc và nâng cao năng suất. Khả năng đọc hiểu, phân tích thông tin và dữ liệu số của người lao động chưa thực sự tốt, khiến việc ra quyết định dựa trên dữ liệu chưa hiệu quả.
Bên cạnh đó, an toàn và bảo mật là vấn đề đáng lo ngại, khi nhiều người chưa có thói quen bảo vệ dữ liệu cá nhân, dễ mắc phải lừa đảo trực tuyến hoặc vi phạm các nguyên tắc an toàn mạng.
Thách thức lớn nhất hiện nay là hệ thống giáo dục và đào tạo chưa bắt kịp tốc độ phát triển của công nghệ, khiến nhiều lao động thiếu kỹ năng phù hợp. Hàng năm, Việt Nam có hơn 50.000 sinh viên chuyên ngành CNTT tốt nghiệp song mới đáp ứng 25% về số lượng và 30% về chất lượng so với nhu cầu thực tế.
Để không bị tụt lại trong cuộc đua phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, Việt Nam cần đẩy mạnh đào tạo và tái đào tạo, giúp người lao động sẵn sàng cho nền kinh tế số.
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực số tại Việt Nam
Nhân lực số chính là "chìa khóa vàng" mở cánh cửa thành công, quyết định tốc độ phát triển, khả năng thích nghi và sức mạnh của doanh nghiệp cũng như quốc gia. Vì vậy, cần những những giải pháp để phát huy hiệu quả tiềm năng của nguồn nhân lực số, từ đó đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên số. Dưới đây là một số giải pháp để phát triển nguồn nhân lực số tại Việt Nam:
Chính sách phát triển nhân lực số
Chính sách phát triển nhân lực số phải được thiết kế theo hướng linh hoạt, dễ thực thi và phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể. Về cơ bản, có thể phân loại thành bốn nhóm chính:
Chính sách với người lao động hiện tại đã có kỹ năng số: Với đối tượng là người lao động hiện tại đã có kỹ năng số, một là, cung cấp các chương trình dài hạn nâng cao kỹ năng để đào sâu kiến thức về các kỹ năng hiện có. Hai là, tạo các khóa học kỹ năng số ngắn hạn, linh hoạt để đáp ứng nhu cầu kỹ năng cấp bách.
Chính sách với người lao động hiện tại chưa có kỹ năng số: Cung cấp khả năng tiếp cận các khóa đào tạo kỹ năng cơ bản ở nhiều năng lực khác nhau. Cung cấp tín dụng cho người lao động để đầu tư phát triển kỹ năng số. Hướng dẫn các công ty thuộc lĩnh vực phi công nghệ về việc áp dụng kỹ thuật số và khuyến khích đầu tư vào đào tạo kỹ năng kỹ thuật số cho nhân viên của mình.
Chính sách với người lao động trong tương lai: Với học sinh, tập trung xây dựng nền tảng năng lực số vững chắc, tập trung nhiều hơn vào các kỹ năng STEM và kỹ thuật số trong chương trình giảng dạy, trang bị cho học sinh có nền tảng mạnh về kiến thức, kỹ năng số thiết yếu chuẩn bị cho việc đào tạo trong tương lai,…
Với sinh viên đại học, xây dựng các kỹ năng “sẵn sàng làm việc” cần thiết cho các ngành và loại công việc, đảm bảo sự đáp ứng của chương trình giảng dạy đại học với các nhu cầu kỹ năng mới nổi thông qua sự hợp tác với doanh nghiệp. Tạo cú hích để sinh viên mới tốt nghiệp có được kinh nghiệm thực tiễn,...
Chính sách với người lao động yếu thế, dễ bị tổn thương: Hiện thực hóa phương châm không bỏ lại ai ở phía sau, thể hiện trong việc xây dựng các chương trình mục tiêu dành cho các nhóm dễ bị tổn thương nhằm đào tạo các kỹ năng cơ bản để “sẵn sàng cho công việc” trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Thu hút nhân tài toàn cầu
Cần có cơ chế đặc biệt, chế độ đặc thù với mức lương hấp dẫn, môi trường làm việc thuận lợi để mời nhân tài công nghệ số người Việt Nam thành danh ở nước ngoài hợp lực với các tài năng công nghệ trong nước cùng nhau tạo ra các giải pháp công nghệ số có tác động lớn đến cuộc sống của con người, xã hội.
Trao cho họ trọng trách và nhiệm vụ xứng tầm, nhiều quyền để tự chủ trong công việc, không gian rộng lớn để chinh phục các công việc đầy thách thức mang lại giá trị, ý nghĩa lớn lao. Bố trí các cán bộ lão luyện, giàu kinh nghiệm giúp họ giải quyết các quy trình, thủ tục hành chính phức tạp, nhiêu khê...
Cần có chính sách thu hút nhân tài
Phát huy tinh thần “tầm sư học đạo” tìm đến những bậc thầy giỏi nhất để học hỏi, học đến nơi đến chốn, học từ người Singapore trong xây dựng và quản trị quốc gia thông minh, học từ người Hàn Quốc, người Trung Quốc trong xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ số tiên tiến, học từ người Mỹ, người Anh trong đào tạo đội ngũ tài năng công nghệ số...
Bằng cách kết hợp nội lực và ngoại lực, Việt Nam có thể xây dựng một hệ sinh thái nhân lực số vững mạnh, góp phần đưa đất nước trở thành trung tâm công nghệ hàng đầu khu vực và thế giới.
Tóm lại, chìa khóa thành công trong kỷ nguyên số không nằm ở tài nguyên vật chất mà nằm ở con người. Một lực lượng lao động tinh nhuệ, làm chủ công nghệ và không ngừng đổi mới sáng tạo sẽ trở thành động lực đưa đất nước bứt phá và vươn xa trong kỷ nguyên số.
Tăng tốc phát triển nhân lực số là chìa khóa để Việt Nam vươn mình mạnh mẽ, nâng cao năng lực cạnh tranh, khẳng định vị thế trong nền kinh tế số toàn cầu.
Phạm Mạnh Hùng - VNU-UEB
Trần Thị Nhung - VNU-UEB